Skip to content Skip to footer
PGS, NGND. Lê Mậu Hãn
 
1. Một học thuyết cách mạng sáng tạo
n Việt Nam có chung một truyền thống lịch sử, có ý thức sâu sắc về chủ quyền cương vực quốc gia, quyền làm chủ đất nước, cố kết cộng đồng dân tộc, có tình nghĩa đồng bào sâu nặng trong đó dòng chủ lưu là chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập và khát vọng tự do, không bao giờ khuất phục trước quân ngoại bang xâm lược và thống trị. Những chiến công hiển hách trong lịch sử dân tộc chống quân phong kiến phương Bắc xâm lược và thống trị không phải nhờ sức mạnh của quân nhiều mà “nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do”(1). Độc lập tự do đối với các dân tộc vô cùng thiêng liêng, là “quyền trời cho của mỗi dân tộc”(2). Nguồn giá trị văn hóa tư tưởng truyền thống trong đó cốt lõi là chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập và khát vọng tự do là nền tảng tinh thần, động lực vĩ đại cho sự trường tồn và phát triển của Việt Nam.
Vào giữa thế kỷ XIX, Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị, biến thành thuộc địa của Pháp. Mâu thuẫn giai cấp trong lòng xã hội có sự chuyển biến lớn. Sự xung đột về quyền lợi các giai cấp trong nội bộ dân tộc vốn không diễn ra giống như ở các nước phương Tây mà lại còn giảm thiểu lớn. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp trở thành mâu thuẫn chủ yếu. Các cuộc đấu tranh dân tộc chống thực dân Pháp liên tiếp nổ ra nhưng vì thiếu một định hướng cách mạng, khoa học nên chưa thể thành công. Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh đã dấn thân đến nhiều nước trên thế giới để tìm hiểu, học hỏi, suy ngẫm về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc phù hợp điều kiện lịch sử dân tộc, con người Việt Nam và nhu cầu tiến hóa của đất nước theo xu thế phát triển của nhân loại trong thời đại mới. Bằng phương pháp luận biện chứng, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, kết hợp đúng đắn lý luận với thực tiễn, Người đã nhận chân được giá trị văn hóa tư tưởng Việt Nam truyền thống và những yếu tố tư tưởng cách mạng của các nước trên thế giới trong lịch sử cận hiện đại. Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh thấy rõ chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Ăngghen đã từng đánh giá học thuyết của Mác không đưa ra những giáo điều định sẵn, mà là những điểm xuất phát cho việc nghiên cứu thêm và phương pháp cho việc nghiên cứu này. Chủ nghĩa duy vật là một phương pháp duy nhất khoa học, còn chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác thì không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả, mà chỉ có ý muốn vạch ra một phương pháp duy nhất khoa học để giải thích lịch sử chứ không thể đưa ra một chìa khóa cho mọi ổ khóa lịch sử.
Mác và Ăngghen cũng đã bàn đến vấn đề độc lập dân tộc của các nước bị các dân tộc lớn thống trị trên cơ sở triết lý lịch sử phương Tây và quyền lợi của giai cấp vô sản các nước đó làm khung quy chiếu. Về vấn đề này, Ăngghen cũng từng thừa nhận rằng: “độc lập dân tộc là cơ sở cho mọi sự hợp tác quốc tế”(3) và “phong trào quốc tế của giai cấp vô sản nói chung chỉ có thể nói trong môi trường các dân tộc độc lập”(4). Song, xuất phát từ lợi ích trực tiếp của giai cấp vô sản các nước Tây Âu, Ăngghen lại nêu rõ phong trào giải phóng dân tộc phải phục tùng mục đích cách mạng vô sản ở Tây Âu. Ăngghen nhấn mạnh: “Chúng ta phải cùng nhau đấu tranh để giải phóng giai cấp vô sản Tây Âu và bắt tất cả những cái còn lại phải phục tùng mục đích ấy” và “nếu nguyện vọng giải phóng của họ xung đột với lợi ích của giai cấp vô sản, thì tôi hoàn toàn không quan tâm đến họ”(5). Phải đến khi giai cấp vô sản châu Âu được giải phóng thì nhân dân các nước thuộc địa sẽ trở thành người tự do, thực sự được giải phóng!
Bản Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ(6) viết năm 1924, lưu ở Viện Mác – Lênin, Mátxcơva, không ký tên tác giả đã nhận xét rằng: Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử châu Âu, mà châu Âu chưa phải là toàn thể nhân loại. Vì vậy khi vận dụng học thuyết Mác để nghiên cứu phương Đông, nhất là Việt Nam cần phải xem xét lại cơ sở lịch sử và phải bổ sung vào học thuyết đó những tư liệu lịch sử phương Đông mà ở thời kỳ của Mác không thể có được.
Dựa trên cơ sở triết lý phương Đông để nghiên cứu, tác giả bản Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đã nêu một luận điểm có giá trị khoa học đặc sắc, rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước… Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản… Một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời. Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, thì đã lâu lắm rồi, phần lớn thế giới sẽ xôviết hoá và lúc đó, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế. Trong khi chờ đợi, chủ nghĩa dân tộc sẽ quấy rối chủ nghĩa đế quốc Pháp và bằng việc làm này, Quốc tế Cộng sản sẽ được lợi trực tiếp”(7). Chủ nghĩa dân tộc truyền thống được tiếp tục phát triển lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh, là một chủ nghĩa dân tộc cách mạng trong sáng, không mâu thuẫn với lợi ích của phong trào vô sản thế giới và chủ nghĩa quốc tế chân chính. Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc vì độc lập tự do của Việt Nam không hề đi theo sự bài ngoại quen thuộc, bột phát của những cuộc bùng nổ thông thường của chủ nghĩa dân tộc sôvanh, biệt phái.
Nguồn giá trị văn hóa tư tưởng trong đó chủ nghĩa dân tộc chân chính, ý chí độc lập tự do là dòng chủ lưu của tư tưởng Việt Nam xuyên suốt lịch sử dân tộc, là một trong những nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh và dựa trên cơ sở đó, Người đã nghiên cứu tiếp thu biện chứng giá trị nguồn tư tưởng cách mạng của thế giới.
Kế thừa và nâng lên tầm cao mới của thời đại nguồn giá trị văn hóa tư tưởng truyền thống của dân tộc bằng cách kết hợp, tiếp biến, tổng hòa, phát triển biện chứng tinh hoa văn hóa tư tưởng phương Đông và tư tưởng các cuộc cách mạng Âu, Mỹ ở thế kỷ XVII, XVIII, đặc biệt là học thuyết cách mạng của Mác, Lênin, Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công một hệ quan điểm toàn diện và sáng tạo mang tầm vóc lịch sử một học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập tự do.
Học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh được hình thành về cơ bản trong ba thập kỷ đầu của thế kỷ XX và được tiếp tục phát triển khá sinh động trong những thập kỷ về sau. Có thể nêu tóm tắt nội dung học thuyết đó như sau:
– Muốn cứu nước, giải phóng và phát triển dân tộc phải theo học thuyết của Mác, một học thuyết cách mạng nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc về quyền tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình và hạnh phúc. Luận điểm ấy là biểu hiện tầm cao mới, nội dung mới bằng cách kết hợp chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa quốc tế.
– Cách mạng giải phóng dân tộc có quan hệ với cách mạng vô sản ở “chính quốc” song không phụ thuộc vào cách mạng “chính quốc”, mà nó có khả năng giành thắng lợi trước bằng sức mạnh và trí tuệ của dân tộc.
– Cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc là lâu dài, gian khổ, trước hết là phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại quyền độc lập, tự do; thực hiện cách mạng dân chủ nhân dân, tạo tiền đề để quá độ lên giải phóng xã hội, giải phóng con người, tạo thành một liên hiệp trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người; một nước độc lập, dân tự do, mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, một xã hội thông thái và đạo đức.
– Cách mạng giải phóng và phát triển là sự nghiệp đại đoàn kết lực lượng toàn dân tộc, được giác ngộ và tổ chức chặt chẽ đứng lên đấu tranh để giải phóng giành lại quyền độc lập tự do, xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc để quản lý xã hội và phát triển đất nước.
– Cuộc cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc đó phải do một đảng tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc, được vũ trang bằng một hệ tư tưởng cách mạng sáng tạo, có đường lối chính trị đúng đắn, và tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ đảng viên tiên phong gương mẫu nguyện phấn đấu vì nhân dân, vì Tổ quốc lãnh đạo…
Cùng với việc xây dựng học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc làm cơ sở tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, Hồ Chí Minh đã tích cực chuẩn bị về tổ chức, đào tạo cán bộ về lý luận và đạo đức mẫu mực, kiên cường chiến đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình, đem xương máu của mình vun tưới cho cây cách mạng khai hoa, kết trái tốt đẹp.
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập (6-1925). Nhiều lớp huấn luyện cán bộ đã được mở ở Quảng Châu. Phần lớn học viên là những thanh niên yêu nước và cấp tiến, vốn xuất thân là học sinh, trí thức. Hồ Chí Minh trực tiếp theo dõi, chỉ đạo và là giảng viên chính của các khóa học. Các học viên được học về “đường cách mệnh” theo học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh. Họ học làm cách mạng, học cách hoạt động bí mật. Trần Dân Tiên, tác giả của Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch đã cho chúng ta biết rõ, các học viên sau khi “học xong họ lại bí mật về nước truyền bá lý luận giải phóng dân tộc, và tổ chức nhân dân”(8).
Học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh được trình bày rất ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ. Giáo sư Nhật bản Singô Shibata đã nhận xét rằng: “Các tác phẩm ấy đã phát triển lý luận không theo một cách uyên bác xa xôi mà viết bằng những lời lẽ đơn giản, những câu ngắn gọn” nhưng giá trị lý luận cách mạng của Hồ Chí Minh giống như “những viên ngọc quý được khảm trong các tác phẩm của Người”(9). Còn Phiđen Cátxtơrô Rudơ, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba nói: “Đồng chí Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cần thiết phải giải thoát sự bóc lột xã hội. Sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp giải phóng xã hội là hai điểm then chốt trong học thuyết của Người”(10). Nếu có ai hỏi văn bản nào giải thích kỹ càng nhất học thuyết của Hồ Chí Minh, thì chúng ta có thể trả lời: Thông qua chủ nghĩa anh hùng cách mạng nảy sinh hằng ngày trong chiến đấu và dựng xây đất nước của nhân dân Việt Nam, người ta đã tìm thấy lời giải thích hay nhất về học thuyết vì độc lập và tự do của Hồ Chí Minh. Và chính Hồ Chí Minh khi nói về cách viết tác phẩm Đường cách mệnh, con đường giải phóng và phát triển dân tộc được diễn đạt vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ; ước sao cho đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh. Văn chương và hy vọng của sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh!!!(11).
Hà Huy Tập vốn là một thành viên của Đảng Tân Việt đã viết rõ, các hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cả Tân Việt Cách mạng Đảng tự coi “cuốn Đường cách mệnh là cương lĩnh và hệ tư tưởng của họ”. Đó là sách phúc âm đối với tất cả đảng viên của Tân Việt và họ đã học gần như thuộc lòng. Ngay khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt Cách mạng Đảng chưa phải là Đảng Cộng sản, nhưng tất cả các thành viên của hai tổ chức đó luôn luôn nói với nhau hoặc nói với quần chúng rằng họ là những người cộng sản chân chính theo con đường cách mệnh của Hồ Chí Minh.
Lý luận cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập tự do của dân tộc Hồ Chí Minh được truyền bá vào Việt Nam đã đáp ứng khát vọng thiêng liêng nhất của nhân dân Việt Nam, trước hết là tầng lớp học sinh, thanh niên trí thức yêu nước. Họ đã dấn thân đi vào quần chúng để tuyên truyền, vận động, tổ chức đấu tranh, làm dấy lên trong toàn quốc một phong trào đấu tranh dân tộc, dân chủ ngày càng mạnh mẽ. Điều đó phản ánh khá rõ sự trưởng thành về chính trị, tính tự giác cách mạng của phong trào quần chúng. Nhu cầu lập Đảng Cộng sản trên nền tảng học thuyết sáng tạo của Hồ Chí Minh để lãnh đạo quần chúng đấu tranh đã thúc đẩy các hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và của nhiều đảng viên của Đảng Tân Việt tích cực vận động thành lập Đảng Cộng sản.
2. Sự xuất hiện đúng lúc, với những quyết định lịch sử
Sau cuộc phản biến của Tưởng Giới Thạch tháng 4-1927, hoạt động của Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn nguy hiểm và suýt bị Quốc dân Đảng bắt. Trụ sở làm việc bị chúng khám xét. Lúc đó Người chỉ còn cách chọn gấp giữa hai con đường: hoặc là bị bắt hay qua Mátxcơva để về Xiêm (Thái Lan). Nhận được chỉ thị của Quốc tế Cộng sản cử về công tác ở Đông Dương, Hồ Chí Minh đến Xiêm tháng 7-1928. Tại đây, Người hoạt động trong Việt kiều, và hai lần đi về Việt Nam song do mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật nên đều phải quay lại Xiêm. Giữa lúc đang cố gắng để tiếp tục đi lần thứ ba thì một đồng chí từ Hồng Kông đến báo tin cho biết Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã phân liệt dẫn đến sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929) và An Nam Cộng sản Đảng (8-1929). Hai đảng đó hoạt động riêng lẻ và phê phán nhau có tính biệt phái. Những người tiên tiến trong Đảng Tân Việt cùng tập hợp lại và tuyên bố chính thức lập ra Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9-1929).
Trước tình hình cấp bách đó, Hồ Chí Minh đã rời Xiêm (11-1929) để trở lại Trung Quốc thực hiện nhiệm vụ lịch sử thống nhất các tổ chức cộng sản nhằm chấm dứt sự biệt phái của các Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Cũng trong lúc này, tháng 12-1929, ở Mátxcơva, Quốc tế Cộng sản cũng đã ra Nghị quyết về vấn đề thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương. Nghị quyết nêu rõ phải: “Chấm dứt chủ nghĩa biệt phái và tình trạng chia xẻ nhỏ thành các nhóm. Cần phải, tập hợp lại hết thảy những cái gì ưu tú nhất, cách mạng và tích cực trong tất cả các nhóm, trên cơ sở một cương lĩnh hành động rõ ràng minh bạch. Đây là nhiệm vụ trung tâm, là nghĩa vụ của tất cả mọi người cộng sản Đông Dương. Đồng thời, cần phải nhớ đến nguy cơ và cảnh giác đề phòng những hành vi chia rẽ các nhóm cũ mang vào trong Đảng Cộng sản cốt sao để về sau, trong Đảng Cộng sản, không còn có những sự bất đồng và tranh chấp giữa các nhóm nữa”(12). Nghị quyết đó chưa đến với những người cộng sản ở Đông Dương và chính Hồ Chí Minh cũng chưa biết có nghị quyết đó. Với trọng trách lịch sử của mình Người đã triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản để bàn việc hợp nhất Đảng và đến ngày 23-12-1929, Người đã có mặt ở Trung Quốc.
Hội nghị hợp nhất Đảng họp từ ngày 6-1-1930 tại Cửu Long, Hồng Kông với sự hiện diện của hai đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh và đại diện của An Nam Cộng sản Đảng là Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn có hai người giúp việc Hội nghị là Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn. Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, và bằng một thái độ chân thành, có sức thuyết phục, Hồ Chí Minh đã chỉ cho đại diện của cả hai đảng rõ về những sai lầm và những việc họ phải làm. Các đại biểu đã đồng thuận quyết định thống nhất cả hai đảng để lập thành một đảng với tên gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của lịch sử dân tộc; thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt – Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, và các văn bản chính trị khác gồm Chương trình vắn tắt, Điều lệ tóm tắt. 
Các đại biểu phải lập một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng. Ngoài công tác hằng ngày Ban Chấp hành Trung ương phải tổ chức ngay Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Tương tế, Hội Phản đế. Hồ Chí Minh sẽ viết Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng (viết xong ngày 16-2-1930). Hội nghị họp xong, các đại biểu trở về nước ngày 8-2-1930.
Do thiếu thông tin về sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn nên Hồ Chí Minh không mời đại diện đảng này đến dự Hội nghị hợp nhất Đảng. Vì vậy theo yêu cầu của tổ chức này, ngày 24-2-1930, tại Sài Gòn, Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu là hai trong năm thành viên tham gia hội nghị lịch sử quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với hai ủy viên của Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản và Ngô Gia Tự là Bí thư lâm thời của Xứ ủy Nam Kỳ của Đảng đã họp quyết định để Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc thống nhất các tổ chức Đảng Cộng sản tiền thân thành một Đảng Cộng sản thống nhất ở Việt Nam đã hoàn tất.
 Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc, sản phẩm của sự kết hợp học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là một đặc trưng về sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng Hồ Chí Minh.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở một học thuyết cách mạng sáng tạo, với một quyết định lịch sử của Hồ Chí Minh, thông qua sự thử thách, sàng lọc chọn lựa lịch sử, là sự hiện thực hóa của cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam theo con “đường cách mạng” của Hồ Chí Minh.
Ngay khi mới ra đời, Đảng đã có cương lĩnh, Sách lược (tuy còn vắn tắt) cách mạng sáng tạo, thể hiện đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia dân tộc và quốc tế, trong đó thấm đượm yếu tố dân tộc, yếu tố quyết định tính đặc sắc của cách mạng thuộc địa trong thời đại mới. Chủ trương thực hiện chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, qua dân chủ chuẩn bị tiến lên theo định hướng cộng sản vì độc lập, tự do là tư tưởng cách mạng cốt lõi như viên ngọc quý được khảm trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Trải qua thực tiễn cách mạng và kháng chiến về sau, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh đã phát triển thành ba giai đoạn chiến lược cách mạng:
Giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc;
Giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ những di tích phong kiếnvà nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân;
Giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội.
Các giai đoạn đó không tách rời nhau, mật thiết liên hệ xen kẽ với nhau. Song mỗi giai đoạn có nhiệm vụ trung tâm cần phải tập trung lực lượng vào đó mà thực hiện.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng trước hết phải có đảng cách mạng được vũ trang bằng một học thuyết giải phóng và phát triển vì độc lập và tự do đã thành hiện thực bằng sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Và chính Hồ Chí Minh đã trực tiếp tìm tòi, khảo nghiệm, chuẩn bị về lý luận, tư tưởng, đường lối chính trị và tổ chức cuộc vận động thành lập Đảng dẫn đến sự ra đời của các đảng tiền thân. Các đảng đó hoạt động riêng lẻ và bắt đầu xuất hiện khuynh hướng biệt phái vô cùng nguy hại. Chính trong thời điểm lịch sử đó, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng xuất hiện đúng lúc, đáp ứng nhu cầu của lịch sử với những quyết định đúng, và sự mẫu mực của một người thầy, người lãnh tụ sáng suốt có sức thuyết phục đối với các đại biểu dự Hội nghị thành lập Đảng về cả chủ trương, phương pháp thống nhất các đảng tiền thân thành Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất, nhân tố cơ bản đầu tiên quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo. Thực tiễn lịch sử của nhân dân Việt Nam diễn ra từ sau ngày Đảng ra đời và tiếp diễn tạo nên những thắng lợi vĩ đại của chúng ta, mở đầu là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên lịch sử mới – kỷ nguyên độc lập, tự do đã minh chứng về sự sáng tạo của Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Do những hạn chế về nhận thức và trực tiếp chịu ảnh hưởng của khuynh hướng “tả” của Quốc tế Cộng sản nên Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10-1930 do Trần Phú chủ trì và cả Hồng Thế Công – tác giả của tác phẩm Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương viết năm 1933 đã phê phán gay gắt về những điều gọi là sai lầm của Hồ Chí Minh trong Hội nghị hợp nhất, song không thể không nhận chân giá trị lịch sử của Hội nghị thành lập Đảng do Người chủ trì. Hồng Thế Công, tuy phê phán Hồ Chí Minh khá nặng nề nhưng đã viết: “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người đã có sáng kiến đề ra và lãnh đạo công cuộc thống nhất”(13). Hội nghị hợp nhất đã đóng một vai trò lịch sử to lớn… Hội nghị đã có sáng kiến thống nhất các lực lượng cộng sản lại, đã cố gắng tập trung phong trào cộng sản, tạo cho nó một trung tâm duy nhất góp phần làm cho công cuộc tranh đấu phát triển thuận lợi, những điều ấy đã đáp ứng được một yêu cầu của lịch sử và đó là một công lao lớn”(14).
Nhiều nhà nghiên cứu và chính khách trên thế giới cũng đã đánh giá tầm vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh, nhãn quan sáng suốt nhìn xa thấy rộng của Người bắt nguồn từ nhận thức sâu sắc về những lực lượng thúc đẩy sự biến đổi có tính chất bùng nổ nhất của lịch sử ở những bước ngoặt có tính chất cách mạng nhất. Phải chăng nhận định sau của Gớt Hôn – Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ, cũng góp phần soi tỏ vai trò sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam rằng: “Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử, với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vậy mà đồng chí đã làm ra lịch sử”(15).
Đây là một bài học mà chúng ta cần vận dụng phương pháp duy vật biện chứng của Mác, nắm hiểu sâu sắc nguyên tắc có tính phương pháp luận quyết định mọi nhận thức, tư duy của Hồ Chí Minh là phải xuất phát từ thực tiễn và kết hợp lý luận với thực tiễn trong việc nghiên cứu tư tưởng và lịch sử hoạt động của Người.
 



Chú thích:
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, t1, tr.80

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.7
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1998, t.35, tr.351
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.35, tr.349,364
(5) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.35, tr.364
(6) Bản Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ không ghi tên tác giả, song qua nội dung của báo cáo, nhiều nhà nghiên cứu về sử học đều thống nhất không ai khác ngoài Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là người Việt Nam duy nhất lúc đó đang sống và hoạt động ở Matxcơva, chính là tác giả của bản báo cáo đó.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.466-467
(8) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn nghệ, H.1956, tr.71
(9) Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H.1976, tr.246
(10) Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Sđd, tr.78
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.262
(12) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, t.4, tr.404
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.4, tr.425
(14) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.4, tr.409
(15) Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Sđd, tr.530

Leave a comment

KHU DI TÍCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TẠI PHỦ CHỦ TỊCH

Địa chỉ: Số 1 - Hoàng Hoa Thám (Cổng Đỏ) - Ba Đình - Hà Nội

ĐT: 08 044 287 - 08 043 559 - Fax: 08 043 064

Email: [email protected]

GIỜ MỞ CỬA

Mở cửa mỗi ngày trong tuần (trừ chiều thứ Hai):
Mùa Hè: 7:30 đến 11:00 - 13:30 đến 16:00
Mùa Đông: 8:00 đến 11:00 - 13:30 đến 16:00


TỔNG TRUY CẬP

Copyright © President Ho Chi Minh’s vestige in the Presidential Palace area.

error: Content is protected !!